Hướng dẫn giải vở bài tập tiếng việt lớp 5 dễ hiểu cho học sinh

Tiếng Việt lớp 5 được dạy xuyên suốt cả 35 tuần, bao gồm những phân môn Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Kể chuyện, Tập làm văn với nhiều chủ điểm khác nhau. Ngày hôm nay Kiến Guru sẽ hướng dẫn giải vở bài tập tiếng việt lớp 5 nhé!

Các hoạt động và nội dung vở tiếng việt lớp 5

– Tiếng Việt 5 có các chủ điểm sau:

  • Việt Nam – Tổ quốc em
  • Cánh chim hòa bình
  • Con người với thiên nhiên
  • Giữ lấy màu xanh
  • Vì hạnh phúc con người
  • Người công dân
  • Vì cuộc sống thanh bình
  • Nhớ nguồn
  • Nam và nữ
  • Những chủ nhân tương lai

– Sự phân bố các phân môn:

Một tuần học ở học sinh lớp 5 có 8 tiết Tiếng Việt. Trong đó có 2 tiết tập đọc, 2 tiết luyện từ và câu, 2 tiết tập làm văn, 1 tiết kể chuyện và 1 tiết chính tả. Sự phân bố chương trình này khác so với các lớp 1,2,3 bởi vì học sinh lớp 5 đã sử dụng chữ viết thuần thục, tốc độ viết bài của các em đã nhanh hơn nên không còn những tiết tập viết nữa. Bên cạnh đó các em đã thực hành viết rất nhiều nên việc sai lỗi chính tả cũng rất hạn chế. Vì vậy tiết chính tả chỉ còn 1 tiết thay vì 2 tiết so với các lớp cũ.

Ngoài ra, số tiết ở môn luyện từ và câu và môn tập làm văn cũng tăng lên. Có tăng thêm ở đây vì chương trình lớp 5 đòi hỏi các em phải giao tiếp, sử dụng ngôn từ chính xác và đa dạng hơn. Chính vì thế, môn luyện từ và câu sẽ giúp các em mở rộng thêm vốn từ, tăng khả năng giao tiếp. Môn tập làm văn đòi hỏi các em phải có sự quan sát để có thể viết được những bài văn tả cảnh, tả vật và việc viết của các em còn hạn chế. Vì vậy, phân phối chương trình 2 tiết cho môn tập làm văn để giúp các em có thêm thời gian rèn luyện kỹ năng này.

– Phân môn tập đọc:

Môn tập đọc chiếm thời gian là 2 tiết cho 1 tuần. Bài tập đọc ở lớp 5 tương đối dài so với các lớp dưới. Các bài tập đọc có sự đa dạng về chủ đề, gần gũi với học sinh tiểu học. Bài tập đọc có khả năng khơi gợi ở các em những tình cảm giữa người với người, những tấm lòng nhân ái, những sự sẻ chia đồng cảm. Qua các bài tập đọc, học sinh được bồi dưỡng tâm hồn, bồi dưỡng những tình cảm trong sáng trong lòng các em.

Tuy nhiên, nếu như ở lớp dưới, những bài tập đọc chỉ ngừng lại ở mức các em đọc hiểu, đọc trôi chảy, ngắt nghỉ đúng thì đối với lớp 5 sự đòi hỏi khả năng đọc ở các em được nâng thêm một bậc. em cần rèn luyện kỹ năng đọc diễn cảm. Ngoài việc đọc trôi chảy, đúng ngắt nghỉ, các em cần đặt tình cảm của bản thân mình vào bài đọc.

– Phân môn luyện từ và câu:

Đối với phân môn này, học sinh tiếp tục được học mở rộng vốn từ theo từng chủ đề khác nhau. Tuy nhiên, học sinh còn được học về các nội dung mới như từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm, từ nhiều nghĩa, đại từ, quan hệ từ,.. Đây là những kiến thức cơ bản về các lớp từ và cách sử dụng các lớp từ này trong tiếng Việt mà học sinh được tiếp cận một cách cơ bản, dễ hiểu nhất. Ngoài ra, nội dung về câu, ngữ pháp văn bản cũng bắt đầu xuất hiện ở chương trình lớp 5. Học sinh sẽ thực hành liên kết các đoạn, các câu khi viết bài tập làm văn sao cho bài hay hơn, mượt mà hơn.

– Phân môn tập làm văn:

Học sinh lớp 5 thực hiện viết các bài văn miêu tả, chủ yếu tả cảnh, tả người, tả cây cối, tả con vật, tả đồ vật. Học sinh cần hoàn thiện bài văn có đảm bảo đầy đủ bố cục, cách diễn đạt. Ngoài ra học sinh sẽ phải kể lại một câu chuyện mà em đã đọc được, bài văn kể câu chuyện ngoài việc đảm bảo bố cục cần phải đảm bảo nội dung, nhân vật và các lời thoại, hành động của nhân vật. Học sinh lớp 5 bước đầu làm quen với các dạng biên bản qua bài học làm biên bản cuộc họp, làm báo cáo, thống kê,…

Thêm vào đó là những kỹ năng tranh luận, thuyết trình nhằm luyện tập cho học sinh khả năng trình bày ý kiến của mình trước đám đông, bày tỏ thái độ, quan điểm của bản thân trước một vấn đề nào đó.

– Phân môn chính tả:

Môn chính tả chỉ chiếm 1 tiết trong 1 tuần. Ở lớp 5, các em đã khắc phục được tình trạng sai lỗi chính tả, tuy nhiên, những tiết chính tả cũng giúp các em phân biệt các âm đầu, âm cuối để từ đó các em hạn chế sai trong việc viết chính tả cũng như phát âm chính xác hơn.

Ngoài ra, lớp 5 đòi hỏi các em kỹ năng nhớ viết. Các em phải hiểu nội dung văn bản, ghi nhớ một cách chính xác các dấu câu, vị trí dấu câu cũng như các quy tắc chính tả có trong bài. Từ đó, học sinh nhớ và viết lại bài chính tả mới chính xác và hoàn chỉnh.

– Phân môn kể chuyện:

Môn kể chuyện ở lớp 5 chiếm 1 tiết trong 1 tuần học của các em. Ở lớp 5, học sinh đa phần kể những câu chuyện đã chứng kiến hoặc tham gia. Đối với lớp 5, khi kinh nghiệm sống của các em đã có, việc khai thác các câu chuyện em đã chứng kiến hoặc tham gia là vô cùng hợp lý. Các câu chuyện sẽ rất gần với các em học sinh ở đời thực, qua đó các em sẽ tự rút ra được cho mình những bài học kinh nghiệm sống.

Hỗ trợ giải tiếng việt lớp 5 sách giáo khoa: Cánh chim hòa bình Tuần 4

Tập đọc: Những con sếu bằng giấy

Nội dung chính Những con sếu bằng giấy

Mĩ ném bom trừng phạt hai thành phố của Nhật. Cô bé Xa-xa-ki bị nhiễm phóng xạ. Em khao khát sống nên đã tin rằng gấp 1000 con hạc giấy sẽ khỏi bệnh. Em chết đi nhưng học sinh thành phố Hi-rô-si-ma đã góp tiền xây tượng đài tưởng niệm những nạn nhân chết do bom nguyên tử, với ước nguyện về thế giới hòa bình.

Bố cục bài Những con sếu bằng giấy

Co thể chia bài làm 4 đoạn:

Đoạn 1: Từ đầu đến mới chế tạo xuống Nhật Bản

(Mĩ ném bom nguyên tử xuống Nhật Bản)

Đoạn 2: Từ Hai quả bom ném xuống đến phóng xạ nguyên tử

(Hậu quả mà 2 quả bom đã gây ra)

Đoạn 3: Từ Khi Hi-rô-si-ma bị ném bom đến gấp được 644 con

(Khát vọng sống của Xa-xa-ki)

Đoạn 4: Phần còn lại

(Ước vọng hòa bình của học sinh thành phố Hi-rô-si-ma)

Câu 1 (trang 37 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Xa – đa – cô bị ô nhiễm phóng xạ nguyên tử khi nào?

Trả lời:

Xa – đa – cô bị ô nhiễm phóng xạ khi chính phủ Mĩ cho ném hai quả bom nguyên tử xuống hai thành phố lớn của Nhật Bản là Hi – rô – xi – ma và Na – ga – a – ki.

Câu 2 (trang 37 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Cô bé hi vọng kéo dài cuộc sống của mình bằng những cách nào?

Trả lời:

Cô bé tin vào một truyền thuyết nói rằng , nếu gấp đủ một nghìn con sếu bằng giấy treo quanh phòng thì em sẽ khỏi bệnh.

Câu 3 (trang 37 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Các bạn nhỏ đã làm gì:

a. Để tỏ tình đoàn kết với Xa – đa – cô?

b. Để bày tỏ nguyện vọng hòa bình?

Trả lời:

Các bạn nhỏ trên toàn nước Nhật và nhiều nơi trên thế giới đã tới tấp gửi đến cho Xa – đa – cô hàng ngàn con sếu.

Khi Xa – đa – cô mất, các bạn nhỏ đã quyên góp tiền xây tượng đài tưởng nhớ những nạn nhân bị bom nguyên tử sát hại. Trên đỉnh tượng đài là hình ảnh một bé gái giơ cao hai tay nâng một con sếu. Dưới chân tượng đài khắc dòng chữ: “Chúng tôi muốn thế giới này mãi mãi hòa bình”.

Câu 4 (trang 37 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Nếu được đứng trước tượng đài , em sẽ nói gì với Xa – đa – cô?

Trả lời:

Học sinh có thể tự nói lên suy nghĩ của mình.

* Gợi ý: Tôi căm ghét chiến tranh./ Cái chết của bạn làm cho chúng tôi hiểu rõ về sự tàn bạo của chiến tranh./ Cái chết của bạn nhắc nhở chúng tôi phải biết yêu hòa bình, bảo vệ hòa bình trên trái đất…

Chính tả (Nghe – viết): Anh bộ đội Cụ Hồ gốc Bỉ

Câu 1 (trang 38 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Nghe – viết: Anh bộ đội Cụ Hồ gốc Bỉ

Trả lời:

Anh bộ đội Cụ Hồ gốc Bỉ

Phrăng Đơ Bô-en là một người lính Bỉ trong quân đội Pháp xâm lược Việt Nam. Nhận rõ tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược, năm 1949, ông chạy sang hàng ngũ quân đội ta, lấy tên Việt là Phan Lăng. Một lần, rơi vào ổ phục kích, ông bị địch bắt. Địch dụ dỗ, tra tấn thế nào cũng không khuất phục được ông, bèn đưa ông về giam ở Pháp.

Năm 1986, Phan Lăng cùng con trai đi thăm Việt Nam, về lại nơi ông đã từng chiến đấu vì chính nghĩa.

Học sinh tự viết.

Câu 2 (trang 38 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Chép vần của các tiếng in đậm trong câu sau về mô hình cấu tạo vần. Cho biết các tiếng ấy có gì giống nhau và khác nhau về cấu tạo.

Nhận rõ tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược, năm 1949, ông chạy sang hàng ngũ quân đội ta, lấy tên Việt là Phan Lăng.

Trả lời:

a. Mô hình cấu tạo vần

Soạn Tiếng Việt lớp 5 | Để học tốt Tiếng Việt lớp 5

b. So sánh

bài tập tiếng việt lớp 5
bài tập tiếng việt lớp 5

Câu 3 (trang 38 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Nêu quy tắc ghi dấu thanh của các tiếng trên.

Trả lời:

– Đối với tiếng có âm cuối, dấu thanh đặt ở chữ các thứ hai của âm chính (nguyên âm đôi).

– Đối với tiếng không có âm cuối, đặt dấu thanh ở chữ cái thứ nhất của âm chính (nguyên âm đôi).

Luyện từ và câu: Từ trái nghĩa

Câu 1 (trang 38 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): So sánh nghĩa của các từ im đậm:

Phrăng Đơ Bô – en là một người lính Bỉ trong quân đội Pháp xâm lược Việt Nam. Nhận rõ tính chất phi nghĩa của chiến tranh xâm lược, năm 1949, ông chạy sang hàng ngũ quân đội ta, lấy tên Việt là Phan Lăng. Năm 1986, Phan Lăng cùng con trai đi thăm Việt Nam, về lại nơi ông đã từng chiến đấu về chính nghĩa.

Trả lời:

– Phi nghĩa: trái với đạo nghĩa

Ví dụ: của phi nghĩa, cuộc chiến tranh phi nghĩa…

+ Cuộc chiến tranh phi nghĩa là cuộc chiến tranh có mục đích xấu xa, đi ngược với đạo lí làm người, không được những người có lương tâm ủng hộ.

– Chính nghĩa: điều chính đáng, cao cả, hợp đạo lí

Ví dụ: chính nghĩa thắng phi nghĩa, bảo vệ chính nghĩa

+ Chiến đấu vì chính nghĩa là chiến đấu vì lẽ phải, chống lại cái xấu, chống lại áp bức, bất công.

* Phi nghĩa và chính nghĩa là hai từ có nghĩa trái ngược nhau.

Đó là những từ trái nghĩa.

Câu 2 (trang 38 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Tìm những từ trái nghĩa với nhau trong câu tục ngữ sau:

Chết vinh còn hơn sống nhục

Trả lời:

Chết / vinh, sống / nhục

+ Vinh: được kính trọng, đánh giá cao

+ nhục: xấu hổ vì bị khinh bỉ

Câu 3 (trang 39 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Cách dùng các từ trái nghĩa trong câu tục ngữ trên có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện quan niệm sống của người Việt Nam ta ?

Trả lời:

Cách dùng từ trái nghĩa như trên tạo ra hai vế tương phản nhau, có tác dụng lớn trong việc làm nổi bật quan niệm sống cao đẹp của người Việt Nam ta: thà chết đi mà được kính trọng , đề cao, để lại tiếng thơm cho muôn đời còn hơn sống mà bị người đời cười chê, khinh bỉ.

Câu 1 (trang 39 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Tìm những cặp từ trái nghĩa trong mỗi thành ngữ, tục ngữ dưới đây:

a. Gạn đục khơi trong

b. Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng

c. Anh em như thể chân tay

Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần.

Trả lời:

a. đục / trong

b. đen / sáng

c. rách / lành

Câu 2 (trang 39 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Điền vào mỗi ô trống một từ trái nghĩa với từ im đậm để hoàn chỉnh các thành ngữ, tục ngữ sau:

a. Hẹp nhà …bụng

b. Xấu người … nết

c. Trên kính …nhường

Trả lời:

a. rộng

b. đẹp.

c. dưới

Câu 3 (trang 39 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Tìm những từ trái nghĩa với mỗi từ sau:

a. Hòa bình

b. Thương yêu

c. Đoàn kết

d. Giữ gìn

Trả lời:

a. chiến tranh, xung đột…

b. căm ghét, thù hận…

c. chia rẽ, xung khắc…

d. phá hoại , tàn phá, phá hủy…

Câu 4 (trang 39 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Đặt hai câu để phân biệt mỗi cặp từ trái nghĩa vừa tìm được ở bài tập 3.

Trả lời:

– Chúng em ai cũng yêu hòa bình, ghét chiến tranh.

– Hãy sống yêu thương lẫn nhau, đừng nên phân biệt đối xử và ghét bỏ bạn bè.

– Trái đất là ngôi nhà trung của nhân loại, hãy cùng nhau giữ gìn , đừng nên phá hủy môi trường.

Kể chuyện: Tiếng vĩ cầm ở Mỹ Lai

Câu 1 (trang 40 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Dựa vào lời kể của cô giáo (thầy giáo) và lời thuyết minh cho mỗi hình ảnh dưới đây, hãy kể lại câu chuyện “Tiếng Vĩ cầm ở Mỹ Lai”.

Trả lời:

1. Bên dòng sông Trà Khúc thuộc tỉnh Quảng Ngãi, Mai –cơ – một cựu lính Mĩ – mang theo chiếc đàn vĩ cầm với mong muốn đánh một bản đàn cầu nguyện cho linh hồn của những người đã khuất ở Mỹ Lai- mảnh đất mà cách đây 30 năm đã chịu nỗi đau thảm sát, hủy diệt…

2. Mỹ Lai là một vùng quê thuộc huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Chỉ trong vòng bốn tiếng đồng hồ ngày 16 tháng 3 năm 1968, quân Mĩ đã hủy diệt hoàn toàn mảnh đất này: thiêu cháy nhà cửa, ruộng vườn; giết hại gia súc; bắn chết 504 người, phần lớn là cụ gài, trẻ em và phụ nữ mang thai. Có gia đình mười một người bị lính Mĩ ập tới, xả súng đồng loạt. Có những em bé bị bắn chết khi miệng vẫn còn ngậm vú trên xác mẹ…

ADVERTISING

3. Trong cuộc thảm sát tàn khốc ấy, chỉ có một người may mắn sống sót nhờ ba viên phi công có lương tâm. Ba người đó là Tôm-xơ, Côn-tơn và An-đrê-ốt-ta. Sáng hôm đó, đang bay trên cánh đồng Mỹ Lai, ngồi trên máy bay nhìn xuống họ kinh hoàng thấy quân đội của họ đang dồn phụ nữ và trẻ em vào một con mương cạn rồi xả súng bắn. Tôm-xơ bèn ra lệnh hạ trực thăng xuống ngay trước mặt bạn lính, ra lệnh cho xạ thủ máy chĩa súng về phía chúng. Anh nói với chúng rằng, anh sẵn sàng cho nhả đạn nếu chúng tiếp tục tiến lên. Sau đó, anh đưa người dân về nơi an toàn.

Trên đường đi, anh còn cứu được một đứa bé vẫn còn sống trong đống xác chết nơi một con mương cạn.

4. Trong cuộc thảm sát đó, ngoài ba người lính Mĩ có lương tâm còn có anh lính da đen Hơ-bớt tự bắn vào chân mình để khỏi nhúng tay vào tội ác. Ngoài ra còn có Rô-man bền bỉ sưu tầm tài liệu, kiên quyết đưa vụ thảm sát dã man này ra ánh sáng. Những bức ảnh anh chụp và công bố là bằng chứng quan trọng buộc tội tòa án Mĩ phải đem vụ Mỹ Lai ra xét xử.

5. Mai-cơ đã thực hiện ý nguyện của mình. Tiếng đàn của anh vang lên ở Mỹ Lai nói lên lời giã từ quá khứ, ước vọng hòa bình và cầu nguyện cho linh hồn những người đã khuất.

Câu 2 (trang 40 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Trao đổi với các bạn trong lớp về ý nghĩa của câu chuyện.

Trả lời:

Học sinh có thể thảo luận, trao đổi với bạn bè về ý nghĩa của câu chuyện.

* Gợi ý: Hành động của những người lính Mĩ có lương tâm giúp bạn hiểu điều gì? Cho bạn suy nghĩ gì?

Câu chuyện ca ngợi hành động dũng cảm của những người lính Mĩ có lương tâm đã ngăn chặn và tố cáo tội ác man rợ của quân đội Mĩ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Tập đọc: bài ca về trái đất

Câu 1 (trang 42 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Hình ảnh trái đất có gì đẹp?

Trả lời:

Trái đất như quả bóng xanh bay giữa bầu trời xanh, có tiếng chim bồ câu và những cánh hải âu vờn sóng biển.

Câu 2 (trang 42 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Em hiểu hai câu cuối khổ thơ 2 nói gì?

Trả lời:

Mỗi một màu hoa có màu sắc, mùi hương và vẻ đẹp khác nhau những loài hoa nào cũng quý cũng thơm. Cũng như mọi trẻ em trên thế giới, dù khác màu da, dù là người da đen, da vàng hay da trắng đều bình đẳng như nhau, đều đáng quý, đáng yêu.

Câu 3 (trang 42 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Chúng ta phải làm gì để giữ bình yên cho trái đất?

Trả lời:

Chúng ta phải đồng sức, đồng lòng giữ hòa bình cho trái đất bằng cách: kêu gọi chấm dứt chiến tranh, chống hủy diệt…

Loài người hãy bắt tay nhua, chung sống trong hòa bình. Vì chỉ có hòa bình, tiếng hát, tiếng cười mới mang lại bình yên thực sự cho trái đất.

Câu 4 (trang 42 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Học thuộc lòng bài thơ.

Trả lời:

Học sinh tự học.

Tập làm văn: Luyện tập tả cảnh

Câu 1 (trang 43 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Quan sát trường em. Từ những điều đã quan sát được, lập dàn ý cho bài văn miêu tả ngôi trường.

Trả lời:

ADVERTISING

1. Mở bài:

– Giới thiệu về trường em.

2. Thân bài:

– Tả bao quát ngôi trường:

+ Hình dáng.

+ Màu ngói, màu tường.

– Sân trường:

+ Cột cờ, cây cối, ghế đá.

+ Hoạt động vào giờ ra chơi.

+ Hoạt động vào giờ chào cờ.

+ Hoạt động vào giờ học.

– Lớp học:

+ Số phòng học.

+ Trang thiết bị bên trong (bàn, ghế, quạt, ảnh Bác Hồ…)

– Vườn trường:

+ Cây trong trường.

+ Chăm sóc cây trong vườn trường.

3. Kết bài

– Em rất tự hào về trường em.

– Em mong muốn trường ngày càng đẹp hơn.

– Mời các bạn ghé thăm trường em.

Câu 2 (trang 43 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Chọn viết một đoạn văn theo dàn ý trên.

Trả lời:

Ngôi trường của chúng em đẹp vô cùng! Con đường và sân trường rộng được lát gạch men màu đỏ sẫm in những hoa văn mềm mại. Cột cờ đứng sừng sững giữa sân, lá cờ phần phật, tung bay trong gió sớm. Dọc theo sân trường là hai hàng phượng vĩ xanh um. Dưới bóng cây, chúng em thường tụm năm tụm bảy để trò chuyện, nô đùa. Đi dọc theo hàng hiên trước các lớp học là những bồn hoa cúc, hoa đồng tiền cùng hồng nhung đang khoe sắc, phảng phất hương thơm. Mái trường chính là một “thiên đường” tràn đầy hạnh phúc của tuổi thơ đầy kỉ niệm của em.

Luyện từ và câu: Luyện tập về từ trái nghĩa

Câu 1 (trang 43 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Tìm những từ trái nghĩa nhau trong các thành ngữ, tục ngữ sau:

a) Ăn ít ngon nhiều.

b) Ba chìm bảy nổi.

c) Nắng chóng trưa, mưa chóng tối.

d) Yêu trẻ, trẻ đến nhà; kính già, già để tuổi cho.

Trả lời:

a) ít / nhiều.

b) chìm / nổi.

c) nắng / mưa.

d) trẻ /già.

Câu 2 (trang 44 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Điền vào mỗi ô trống một từ trái nghĩa với từ in đậm.

a) Trần Quốc Toản tuổi nhỏ mà chí …

b) Trẻ … cùng đi đánh giặc.

c) … trên đoàn kết một lòng.

d) Xa-da-co đã chết nhưng hình ảnh của em còn … mãi trong kí ức loài người như lời nhắc nhở về thảm họa của chiến tranh hủy diệt.

Trả lời:

a) lớn.

b) già.

c) dưới.

d) sống.

Câu 3 (trang 44 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Tìm từ trái nghĩa thích hợp với mỗi ô trống:

a) Việc … nghĩa lớn.

b) Áo rách khéo vá, hơn lành … may.

c) Thức … dậy sớm.

Trả lời:

a) nhỏ.

b) vụng.

c) khuya.

Câu 4 (trang 44 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Tìm những từ trái nghĩa nhau:

a) Tả hình dáng

M: cao – thấp

b) Tả hành động

M: khóc – cười

c) Tả trạng thái

M: buồn – vui

d) Tả phẩm chất

M: tốt – xấu

Trả lời:

a) Tả hình dáng

cao – thấp, cao – lùn, to tướng – bé tẹo, mập – gầy, mũm mĩm – tong teo.

b) Tả hành động

khóc – cười, nằm – ngồi, đứng – ngồi, lên – xuống, vào – ra …

c) Tả trạng thái

buồn – vui, sướng – khổ, hạnh phúc – khổ đau, lạc quan – bi quan, phấn chấn – ỉu xìu …

d) Tả phẩm chất

tốt – xấu, hiền – dữ, ngoan – hư, khiêm tốn – tự kiêu, trung thành – phản bội, tế nhị – thô lỗ …

Câu 5 (trang 44 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): 5. Đặt câu để phân biệt các từ trong một cặp từ trái nghĩa em vừa tìm được ở bài tập trên.

Trả lời:

a) Đợi mẹ đi chợ về, chị em Hoa hết đứng lại ngồi chừng như sốt ruột lắm.

b) Sống đừng nên bi quan, phải thật lạc quan yêu đời.

c) Hãy nên khiêm tốn, đừng nên tự kiêu.

Gợi ý giải vbt tiếng việt lớp 5 – Tập làm văn: Tả cảnh

Câu 1 (trang 44 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Đề bài gợi ý

1. Tả cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều) trong một vườn cây (hay trong công viên, trên đường phố, trên cánh đồng, nương rẫy).

2. Tả một cơn mưa.

3. Tả ngôi nhà của em (hoặc căn hộ, phòng ở của gia đình em).

Trả lời:

1. Tả cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều) trong một vườn cây (hay trong công viên, trên đường phố, trên cánh đồng, nương rẫy).

Mẫu 1:

Nhìn từ xa, công viên như một khu vườn lớn chìm trong màn sương trắng. Công viên được bao bọc bởi những cây cao, vòm lá xum xuê, trồng thẳng tắp. Dưới gốc cây, những bồn hoa được cắt tỉa cẩn thận, chia công viên thành những ô bàn cờ với nhiều lối đi lát gạch men. Mặt trời bừng lên, chiếu những tia nắng hồng, xua tan màn sương, để lại trên lá cây những hạt sương to long lanh như những hạt ngọc. Một chú chim chào mào có gù lông màu vàng nghệ, từ đâu bay đến, đậu trên cành hoa sứ hót lên một hồi lanh lảnh rồi vụt bay đi. Chim trong các vòm cây họa theo tiếng hót, công viên chợt rộn rã tiếng chim. Nghiêng mình nghe chim hót, những nàng hồng hé cánh hoa, phô sắc áo màu đỏ thẫm. Nụ hoa he hé tỏa hương dịu dàng. Công viên buổi sáng đẹp lung linh, diễm lệ.

Mẫu 2:

Công viên vào chiều chủ nhật có vẻ chật chội hơn vì đón lượng người đến tham quan và vui chơi đông hơn ngày thường. Khi trời về chiều, ánh nắng dịu dần, làn gió thổi nhè nhẹ làm cho bầu không khí mát mẻ hơn. Dưới những tán cây xanh, các em nhỏ ríu rít chơi đu quay, chơi cầu trượt, bập bênh. Các nhà bóng với đủ màu sắc rực rỡ là nơi thu hút các bạn nhỏ vào chơi nhiều hơn cả. Khu vực tô tượng cũng đông nghịt trẻ con. Các em thỏa sức sáng tạo những hình khối và màu sắc, trông thật ngộ nghĩnh và đáng yêu. Các cụ già ngồi chơi cờ, đi bộ hay ngồi trò chuyện với nhau. Trên ghế đá, các anh chị thanh niên ngồi hóng gió và rôm rả cười nói.

Mẫu 3:

Khoảng vườn như đang tỉnh dậy sau một giấc ngủ dài, Trên tấm thảm xanh trải đầy màu sắc, rực rỡ nhất có lẽ là một bông lan đang hé nở. Một, hai, ba cánh hoa mềm mại, trắng muốt như nhung. Điểm tô cho những cánh hoa mềm mại đó là những hạt sương trong veo như hạt ngọc mà trời mây đã hào phóng rắc xuống tặng hoa. Chẳng kém phần rực rỡ, những cụm hoa cẩm chướng cũng xinh đẹp vô cùng. Những cánh hoa vàng cam, hồng tím mỏng manh như tia nắng mặt trời. Chạy dọc khu vườn là những bé thủy tiên đáng yêu. Gương mặt bé hồn nhiên, ngây thơ với bộ cánh hồng tươi làm các chị hoa ai cũng quý. Giữa vườn, một chàng bưởi vươn lên sừng sững trông thật khỏe khoắn. Chàng đứng trang nghiêm như chú lính chì che chở những quả bưởi non đang ngủ say. Đứng cạnh là một cây lê to trĩu quả. Từng chùm quả chín vàng treo lơ lửng trên những cánh lá bàng bạc như những ngôi sao. Giản dị hơn cả là cây xoài ở góc vườn. Cây khoác lên mình chiếc áo xanh rờn còn lốm đốm những chiếc lá già khô. Hoa xoài nhỏ li ti đang e ấp lấp sau đám lá như e thẹn. những chú bướm đầy màu sắc bây về quyến rũ các nàng hoa xinh đẹp trông như những chiếc nơ bay, làm khu vườn tràn ngập hương sắc.

Mẫu 4:

Vườn nhà ngoại khá rộng. Trong vườn có khá nhiều loại cây ăn quả đang kì sung sức, xum xuê cành lá. Buổi trưa mắc võng dưới tán lá cây nằm thì không nơi nào trong nhà mát bằng. Những tia nắng nhỏ lọt qua kẽ lá, rơi xuống nền đất, lấm tấm chấm sáng, nhấp nháy như sao. Gió mát thổi như ru em vào giấc ngủ. Chim chóc thỉnh thoảng hót lên một hồi lảnh lót rồi lích rích trong cành lá. Nằm trên võng, em đưa mắt dõi tìm một quả na mở mắt hay một quả xoài chín cây và nghe cái mát của khu vườn đè lên mi mắt. Như hòa cùng gió, tàu lá dừa chải tóc bên bờ ao lao xao, lao xao. Vườn trưa rì rào tay lá quạt mát cho em.

2. Tả một cơn mưa.

Mẫu 1:

Sau một tuần nắng nóng kéo dài, cuối cùng cơn mưa rào cũng đã đến. Mây đen ùn ùn kéo từ đâu tới, bầu trời trong xanh phút chốc đã khoác lên mình chiếc áo đen. Sau đó, những giọt mưa bắt đầu rơi tí tách. Chị gió nhón nhẹ chân qua làm cây cối đung đưa. Làn nước chảy đi mang theo những chiếc lá vàng khô trông như những con thuyền đang đi vào dòng nước xoáy. Trên bầu trời, chớp lóe sáng rạch ngang chân trời. Một lúc sau, mưa bắt đầu ngớt dần. Chiếc cầu bảy sắc hiện ra cuối trời tăng thêm vẻ đẹp cho thiên nhiên kiến ai ngắm nhìn cũng phải trầm trồ khen ngợi. Sau cơn mưa, vạn vật như được tắm gội thay bộ quần áo mới. Em rất thích cơn mưa, nhờ cơn mưa mưa mà cây cối tươi tốt.

Mẫu 2:

Những tia nắng yếu ớt cuối cùng cũng biến mất sau những đám mây đen từ đâu kéo đến. Bầu trời và cả không gian chợt như dịu lại. Trời sắp mưa rồi!

Gió thổi mạnh, thốc đám bụi cuộn tròn bay lên cao, rồi lại tung chúng ra, rắc xuống mặt đất. Gió vỗ vào mặt, luồn vào tóc những người đi đường đang vội vã chạy mưa. Cây cối lao xao, xào xạc, những chiếc lá già úa không trụ được, rời cành rồi lượn bay theo gió.

Mưa rơi, những hạt mưa đầu tiên nhẹ nhàng hôn lên đám lá đang reo vui chờ đón mưa đến gột sạch bụi bặm trên mình. Mưa rơi tí tách, nhảy múa vui vẻ, rộn ràng trên những mái nhà và trên mặt đường. Mưa thi nhau từng hạt, từng hạt rơi xuống. Chúng hò reo, hạt này chê hạt kia rơi chậm và thách đố nhau xem ai về đích trước. Thế rồi chúng phấn khích, rào rào lao xuống thành từng lớp như những mũi tên nhỏ lóng lánh ánh bạc. Lớp này nối tiếp lớp kia xối xả rơi xuống tạo ra những bong bóng nước trên mặt đường, rồi từ đó lại nở xòe ra vô số những bông hoa bong bóng nhỏ xinh

Mẫu 3:

Một năm có bốn mùa xuân, hạ, thu và đông – mỗi mùa lại mang một đặc điểm riêng biệt. Và cơn mưa của mỗi mùa cũng sẽ mang những đặc điểm khác nhau. Nhưng có lẽ tôi lại yêu thích nhất là cơn mưa mùa xuân.

Mưa mùa xuân không quá dữ dội như cơn mưa đầu hạ. Cũng không mang cái lạnh như cơn mưa mùa đông. Nó nhẹ nhàng như chính cảm nhận về mùa xuân vậy. Mưa xuân thường kéo dài rất lâu, có khi đến mấy ngày đôi khi khiến con người cảm thấy khó chịu. Những hạt mưa chỉ rơi lất phất nhưng nhưng vẫn đủ làm ướt áo người đi đường. Nếu như mưa phùn khiến con người cảm thấy lạnh lẽo thêm trong mùa đông giá buốt. Thì mưa xuân lại như gọi mọi vật tìm về với sức sống.

Sau những cơn mưa xuân, cây cối dường như bừng tỉnh và tràn trề sức sống. Không khí cũng ấm áp và dễ chịu hơn rất nhiều. Tôi yêu cơn mưa mùa xuân có lẽ cũng chính vì vậy.

Mẫu 4:

Trong bốn mùa, em thích nhất là mùa xuân. Đó là lúc cây cối bừng dậy sức sống sau những ngày đông lạnh giá. Cũng là lúc con người háo hức chuẩn bị chào đón năm mới. Còn với em, em yêu nhất là cơn mưa mùa xuân. Đặc biệt là cơn mưa xuân vào khoảnh khắc giao hòa giữa năm cũ và năm mới. Bầu trời đêm cuối đông se lạnh. Không có sao và không một gợn mây. Trong giây phút thiêng liêng của đất trời và của lòng người. Những hạt mưa xuân lất phất bay khắp không gian khiến cho con người cảm thấy thật hân hoan. Mưa không quá lớn để làm ướt áo đi đường. Những hạt mưa chỉ nhỏ bé rơi xuống liên tiếp rồi tan vào lòng đất. Mưa còn đem theo hơi ấm của mùa xuân. Những hạt mưa thấm vào lòng đất lạnh để nuôi dưỡng những mầm cây. Sau cơn mưa xuân giao mùa, vạn vật đã hoàn toàn thay đổi.

3. Tả ngôi nhà của em (hoặc căn hộ, phòng ở của gia đình em).

Mẫu 1:

Dù ai đi bất cứ nơi đâu cũng đều có một nơi để trở về. Đó chính là nhà. Tổ ấm của em chính là ngôi nhà nhỏ hai tầng đã ở bên em từ khi em chào đời.

Ngôi nhà được xây cách đây 10 năm do chính bố em thiết kế, nhưng trông nó vẫn còn mới. Ngôi nhà được khoác lên mình tấm áo màu xanh da trời tươi sáng. Cánh cửa chính và cửa sổ được hai chị em em lau chùi thường xuyên nên trông sạch sẽ và sáng bóng. Ở mái hiên, bố em có treo 2 giàn hoa phong lan màu trắng và màu hồng. Dường như, nhờ có chúng mà ngôi nhà của em trở nên thơ mộng hơn.

Tầng một là phòng khách và gian bếp. Tầng 2 là phòng nghỉ của bố mẹ và hai chị em em. Phòng khách được mẹ em bày biện thật đẹp mắt. Giữa phòng khách được kê một bộ ghế gỗ màu nâu nhỏ nhắn và trang nhã. Trên bàn uống nước là lọ hoa tươi để trang trí cho phòng khách thêm sinh động. Bàn thờ tổ tiên được đặt trang trọng ở trên cao, thẳng hướng cửa ra vào.

Bố em là người rất mê đồng hồ. Vì thế trên tường, bố đã treo 5 chiếc đồng hồ rất đẹp. Phía tay phải là gian bếp và cũng là phòng ăn. Trên tầng hai, phòng của bố mẹ và của hai chị em em đều rất ngăn nắp, sạch sẽ và ấm cúng. Em được bố mẹ mua cho một bộ bàn ghế học ngay gần cửa sổ thoáng mát, nơi có giàn hoa giấy thơ mộng. Tuy ngôi nhà không có nhiều đồ sang trọng nhưng mỗi khi trở về nhà em lại cảm thấy thật thoải mái và ấm cúng. Xung quanh nhà em là vườn rau và vườn cây ăn cỏ. Có rất nhiều loài cây và loài hoa trong khu vườn.

Có ai đó từng nói “Không nơi đâu bằng nhà mình”. Em rất yêu quý tổ ấm nhỏ của gia đình em. Nó sẽ gắn bó với em từ bé cho hết cuộc đời này.

Kết luận

Trên đây là những hướng dẫn giải vở bài tập tiếng việt lớp 5 dễ hiểu cho học sinh. Hy vọng thông qua bài viết, các bạn sẽ ôn tập, nâng cao được kiến thức của bản thân. Ngoài ra các bạn cũng có thể tham khảo thêm những bài viết khác của Kiến Guru để có thêm nhiều điều bổ ích bằng cách download app Kiến Guru ngay về máy nha!

99 lượt thích

chi tiet bai viet

Tin bài liên quan

Tin tức có thể bạn quan tâm:

Nhẹ nhàng chạm mốc 8+ môn Toán

+ Dành cho lớp 12 – 2k5
+ Giáo viên
NGUYỄN VĂN THẾ
– 9 năm kinh nghiệm luyện thi ĐH
– Giảng viên dạy Toán trên đài VTV
– 25.000+ học sinh chinh phục điểm 8+
35.943 HỌC SINH ĐÃ ĐĂNG KÝ

NHẸ NHÀNG CHẠM MỐC 8+ MÔN TOÁN

+ Dành cho lớp 12 – 2K5
+ Giáo viên
NGUYỄN VĂN THẾ
– 9 năm kinh nghiệm luyện thi ĐH
– Giảng viên dạy Toán trên đài VTV
– 25.000+ học sinh chinh phục điểm 8+
35.943 HỌC SINH ĐÃ ĐĂNG KÝ